Ergon và Aretē
Tuy nhiên, xác định được mục đích tối hậu vẫn chưa giải quyết được câu hỏi: để đạt được eudaimonia ta phải sống như thế nào?
Ở bài trước, chúng ta đã thấy Aristotle xác định eudaimonia (hạnh phúc hay sự phát triển viên mãn của đời sống con người) là điều thiện tối hậu mà con người hướng đến. Tuy nhiên, xác định được mục đích tối hậu vẫn chưa giải quyết được câu hỏi: để đạt được eudaimonia ta phải sống như thế nào? Nếu hạnh phúc không là một trạng thái cảm xúc hay một điều may mắn xảy đến với con người, thì phải có một tiêu chuẩn để xác định đâu là cách sống hạnh phúc và đâu là cách sống kém hạnh phúc. Aristotle làm rõ tiêu chuẩn đó thông qua việc xây dựng và khảo sát hai khái niệm Ergon (tạm dịch là “chức năng”) và Arete (tạm dịch là “đức hạnh/sự xuất sắc”). Mỗi khái niệm đều có hàm nghĩa rộng và phức tạp cả về phương diện từ nguyên học, lẫn triết học của Aristotle.Bởi lẽ trên, trong khuôn khổ một bài viết, người biên soạn không nhắm đến việc giải thích tường tận và chính xác những nội dung Đạo đức học của Aristotle. Thay vì vậy, nhiệm vụ của bài viết là khảo sát hai khái niệm ergon, arete, và mối quan hệ giữa chúng. Ngoài ra, bài viết cũng đưa ra lý do vì sao Aristotle cần cả hai khái niệm để giải thích eudaimonia. Từ đây, câu hỏi về hạnh phúc sẽ chuyển từ “con người hướng đến điều gì?” sang “con người phải hoạt động như thế nào để sống tốt?”
I. Ergon
Từ Hy Lạp ἔργον (ergon) trước hết có nghĩa là “công việc”, “việc làm”, “hành động” hoặc “thành quả”. Các từ điển Hy Lạp ghi nhận phạm vi nghĩa khá rộng của nó: từ những việc làm cụ thể, các hành động hay công việc của con người cho đến những hoạt động được thực hiện trong một lĩnh vực nhất định. Về mặt từ nguyên, ergon thường được liên hệ với gốc Ấn-Âu *werg- mang nghĩa “làm”, “thực hiện”, cùng họ từ với tiếng Anh “work”.
Trong Nicomachean Ethics, nghĩa của thuật ngữ ergon được Aristotle sử dụng có chút khác biệt. Với triết gia này, ergon không chỉ là bất cứ việc gì một sự vật có thể làm, mà là hoạt động đặc thù gắn với bản tính của nó. Đây cũng là khái niệm rất quan trọng mà Aristotle xây dựng nên để khả dĩ trả lời câu hỏi: Thế nào là Eudaimonia?
Thật vậy, điều này có thể thấy rõ qua cách ông lập luận trong I.7 như sau:
“Việc xác định bản chất của Hạnh phúc có vẻ đơn giản hơn khi ta tìm ra công việc đặc thù (tức ergon) của một người là gì. Tỷ dụ như một người chơi sáo, người làm tượng, hay bất kỳ nghệ nhân nào; hoặc phổ quát hơn là toàn bộ những người có bất kỳ chức năng hay hành động nào, Điều tốt nhất và Phẩm hạnh (tức arete) của họ tồn tại trong chức năng/công việc đặc thù (ergon) nào đó.
Vậy nếu ta tin rằng thợ mộc và thợ giày sở hữu những chức năng/công việc đặc thù nào đó, thì loài người nói chung […] cũng có một chức năng đặc thù tương tự những điều trên?”
Thực ra, cấu trúc lập luận này không xuất hiện hoàn toàn mới ở Aristotle. Bởi trong Republic I, Plato đã sử dụng những ví dụ tương tự khi cho Socrates hỏi về ergon của các bộ phận và năng lực: mắt có hoạt động đặc thù là nhìn, tai là nghe, và một sự vật được xem là thực hiện tốt chức năng của nó khi nó thực hiện chức năng ấy một cách tốt đẹp. Vì vậy, khi Aristotle sử dụng ergon để khảo sát điều thiện của con người, ông vốn chỉ đang tiếp tục lập luận của Socrates-Plato mà thôi, dù ông sẽ đưa nó vào một cấu trúc lý luận khác.
Tiếp theo, cái “tốt” trong bản chất của một sự vật liên hệ trực tiếp với việc nó (sự vật đó) thực hiện hoạt động/chức năng đặc thù (tức ergon) của mình tốt như thế nào. Theo lập luận này, ta có thể tạm hiểu như sau: một con dao có tốt hay không dựa vào độ sắc bén của nó; một con ngựa có tốt hay không dựa vào tốc độ của nó. Tương tự, Aristotle dựa vào cấu trúc này để đặt câu hỏi về con người: nếu con người nói chung cũng có một ergon riêng, thì điều thiện của chúng ta có thể được tìm thấy trong việc thực hiện ergon ấy một cách tốt đẹp.
Vậy đâu là ergon riêng của con người?
Đây là một vấn đề khó khăn và đã gây rất nhiều tranh cãi trong triết học của Aristotle. Ông lần lượt loại bỏ những hoạt động không đủ tiêu chuẩn để xác định ergon của con người. Dựa trên lý thuyết về Linh hồn, ông lập luận như sau:
Chức năng Dinh dưỡng và sinh trưởng không thể là ergon đặc thù của con người, bởi thực vật cũng có đời sống ấy. Chức năng Cảm giác và ham muốn cũng chưa đủ, bởi các loài động vật cũng có khả năng đấy. Nếu phải tìm một hoạt động làm nên tính đặc thù của đời sống con người, Aristotle cho rằng cần tìm ở phương diện lý tính (logos). (Ở đây, xin hiểu “đặc thù” là tính chất hoặc đặc điểm riêng biệt)
Vì thế, ông mô tả ergon của con người là “một hoạt động của linh hồn phù hợp với lý trí, hoặc ít nhất là không phải không có lý trí.” (NE, I.7). Điều này không đơn giản như ta thường nói “con người có lý trí còn động vật thì không”. Aristotle thực ra đang xác định kiểu hoạt động làm nên đời sống con người với tư cách là con người (hoạt động của một người, mà từ đó ta khả dĩ biết họ về cơ bản là…con người): suy xét, lựa chọn, hành động và tổ chức đời sống phù hợp lý trí.
Tuy nhiên, ta không nên hiểu nó chỉ đơn thuần có các hoạt động suy tư, suy niệm. Aristotle muốn nhấn mạnh rằng, không chỉ lý trí của bạn hoạt động tốt, mà ham muốn/cảm xúc/hành động phải phù hợp với lý trí nữa.
Nhưng chỉ xác định ergon vẫn chưa đủ. Một hoạt động có thể được thực hiện tốt hoặc kém, và sự khác biệt ấy đòi hỏi một tiêu chuẩn đánh giá. Aristotle đưa vào đây khái niệm arete: cũng như người thổi sáo thực hiện ergon của mình tốt nhờ năng lực xuất sắc của người thổi sáo, con người chỉ thực hiện tốt ergon của mình khi hoạt động theo arete tương ứng.
II. Areté
“Nếu như vậy, điều tốt của con người phải là hoạt động của tâm hồn phù hợp với arete (Trạng thái xuất sắc); còn nếu Trạng thái xuất sắc có nhiều mức, thì đó là Trạng thái xuất sắc ở dạng cao nhất và hoàn hảo nhất.”
Ἀρετή (arete) thường được dịch là “đức hạnh”, “phẩm hạnh” hay tiếng Anh là “virtue”, nhưng nếu chỉ hiểu nó theo nghĩa một danh sách những phẩm chất đáng khen thì sẽ bỏ mất một phần quan trọng trong cách dùng của người Hy Lạp. Liddell–Scott ghi nhận arete trước hết có nghĩa rộng là sự tốt đẹp, xuất sắc hay ưu tú (excellence), có thể được dùng cho năng lực của con người, cho phẩm chất của động vật hoặc cho sự thành thạo trong một công việc; về sau, từ này mới có nghĩa chuyên biệt hơn về phẩm hạnh và đức hạnh đạo đức.
Điều này giải thích tại sao arete có thể được đặt bên cạnh ergon. Nếu ergon cho biết một sự vật thực hiện hoạt động gì, thì arete liên quan đến trạng thái/phẩm chất nội tại xuất sắc của chủ thể tương ứng với hoạt động đặc thù. Xin hiểu “trạng thái” là từ “hexis” được Aristotle dùng, có nghĩa là “một trạng thái hoặc khuynh hướng tính cách ổn định, vững chắc được hình thành thông qua quá trình quen thuộc lặp đi lặp lại”
Ta sẽ hiểu hơn khi phân tích ví dụ này của Aristotle: “Trạng thái xuất sắc của con mắt, chẳng hạn, khiến cho nó vừa tốt vừa tinh tường; vậy nhờ sự xuất sắc của con mắt mà chúng ta nhìn mọi thứ cách rõ ràng.” (NE, II.6). Ergon của mắt là nhìn; vậy điều gì khiến một đôi mắt nhìn tốt và một đôi mắt khác nhìn kém hơn? Câu trả lời chính là Arete của nó, tức là Trạng thái xuất sắc của con mắt đó.
Cũng như thế, “nếu điều này đúng với tất cả mọi trường hợp, thì Trạng thái xuất sắc của Con người (loài người nói chúng), phải là Trạng thái mà trong đó/nhờ đó Con người trở nên tốt đẹp cũng như làm tốt công việc, hành vi của mình.” (NE, II.6)
Tuy nhiên, kết luận ấy vẫn để lại một câu hỏi quan trọng. Nếu arete là điều khiến hoạt động của con người trở nên tốt, thì con người có được nó bằng cách nào? Và sự xuất sắc đó được mô tả như thế nào? Để trả lời, Aristotle sẽ phải phân biệt các loại đức hạnh, giải thích sự hình thành của chúng qua việc thực hành và thói quen, đồng thời xác định vai trò của lý tính trong việc lựa chọn hành động. Những vấn đề ấy sẽ đưa chúng ta sang Nicomachean Ethics Book II và các khái niệm hexis, ethos, trung đạo và phronesis.
III. Từ Ergon đến Areté
Quan hệ giữa hai khái niệm có thể hiểu như sau: ergon cho biết loại hoạt động đặc thù mà một sự vật hay một con người thực hiện, còn aretē là phẩm chất/trạng thái nội tại khiến chủ thể thực hiện hoạt động ấy một cách tốt đẹp/xuất sắc.
Sự phân biệt này cũng giúp ta tránh đồng nhất ba khái niệm đã xuất hiện trong hai bài đầu tiên. Telos trả lời câu hỏi về cứu cánh mà đời sống hướng đến; ergon trả lời câu hỏi về hoạt động đặc thù làm nên đời sống ấy; arete trả lời câu hỏi về mức xuất sắc của hành động đó. Eudaimonia là telos của đời sống con người, nhưng nội dung của nó được Aristotle giải thích bằng hoạt động của con người theo ergon và arete.
Ở đây cũng xuất hiện một điểm quan trọng về cách hiểu Aristotle. Nếu eudaimonia chỉ là thứ gì đó mà con người có thể sở đắc, thì việc xác định ergon và arete sẽ không giữ vai trò quyết định như vậy. Nhưng nếu eudaimonia là một kiểu hoạt động của đời sống, thì việc con người thực sự hoạt động như thế nào trở thành vấn đề trung tâm. Một người có khả năng suy xét tốt nhưng không sử dụng khả năng ấy, hoặc có những phẩm chất đáng quý nhưng không thực hiện chúng trong hành động thì không thể xem là người đã có một đời sống tốt đẹp.
Tuy nhiên, trước khi chấp nhận hoàn toàn kết luận ấy, cần dừng lại ở lập luận nền tảng mà Aristotle đã sử dụng: function argument. Trong mục I.7, nội dung có vẻ ngắn gọn, nhưng mỗi bước trong đó đều đặt ra một vấn đề triết học riêng.
IV. Function argument có thực sự đủ sức chứng minh điều thiện của con người?
Lập luận của Aristotle có sức thuyết phục trực giác khá lớn. Ta có xu hướng đánh giá một sự vật dựa trên việc nó thực hiện tốt hay kém hoạt động đặc thù của nó: một con mắt tốt phải nhìn tốt, một người thợ giỏi phải làm tốt công việc của mình. Tuy nhiên, từ những trường hợp như vậy đến kết luận rằng con người có một ergon riêng và điều thiện của con người nằm trong việc thực hiện ergon ấy một cách xuất sắc không phải là một bước suy luận hoàn toàn hiển nhiên.
Trước hết, Aristotle phải giả định rằng con người thực sự có một ergon đặc thù. Việc những nghề nghiệp, bộ phận cơ thể hay các loại công cụ có hoạt động riêng không tự động chứng minh rằng mọi loại sự vật đều phải có một ergon theo cùng một nghĩa. Một con người có rất nhiều hoạt động: ăn uống, cảm giác, suy nghĩ, giao tiếp, làm việc, vui chơi, tạo dựng quan hệ và tham gia đời sống chính trị. Vì vậy, câu hỏi đặt ra là ‘tại sao trong số những hoạt động ấy lại phải tồn tại một hoạt động đặc thù có tính quyết định đối với điều thiện của toàn bộ đời sống?’. Đây chính là một trong những tiền đề của function argument đã thu hút nhiều phản biện trong nghiên cứu hiện đại.
Thứ hai, ngay cả khi chấp nhận rằng con người có một ergon, vẫn cần giải thích tại sao cái tốt của con người phải nằm trong việc thực hiện ergon ấy tốt. Aristotle cho rằng với một vật có chức năng, Trạng thái xuất sắc của nó được xác định bởi việc thực hiện chức năng ấy tốt; nhưng vì sao nguyên tắc này phải áp dụng cho đời sống con người. Rachel Barney lưu ý rằng trong function argument, Aristotle đang liên kết ergon với tiêu chuẩn về cái tốt và cái đẹp của một sự vật, rồi từ đó áp dụng cấu trúc ấy vào con người. Chính bước liên kết này là trung tâm của toàn bộ lập luận.
Một vấn đề khác cần được thận trọng là liệu function argument có tự nó chứng minh được toàn bộ quan niệm về eudaimonia hay không. Christopher Ducu cho rằng nhiều cách đọc đã đặt quá nhiều trọng lượng lên I.7, trong khi Aristotle có thể chỉ đang thực hiện một bước chuẩn bị trong cấu trúc của Nicomachean Ethics. Theo cách đọc này, lập luận về ergon giúp xác định hướng chung của điều thiện con người, nhưng không đủ để từ đó trực tiếp suy ra toàn bộ nội dung của đời sống hạnh phúc, càng không đủ để quyết định ngay những tranh luận sau này giữa cách đọc nhấn mạnh đời sống đạo đức và cách đọc nhấn mạnh đời sống chiêm niệm.
Thêm nữa, nếu xem function argument như một phép chứng minh đã hoàn chỉnh, dường như Aristotle đã chỉ cần vài đoạn văn để suy ra toàn bộ đạo đức học của mình. Nhưng sau I.7, Aristotle còn khảo sát arete, hành động tự nguyện và không tự nguyện, sự lựa chọn, các đức hạnh của tính cách, các đức hạnh trí tuệ, tình bạn và cuối cùng là đời sống chiêm niệm. Vậy bàn về ergon và arete là những bước khái quát, gợi mở đầu tiên của Aristotle mà thôi.
Ở đây, có lẽ cũng nên tránh một cách phản biện quá nhanh rằng Aristotle đã mắc một “ngụy biện tự nhiên” theo nghĩa hiện đại, tức suy ra một chuẩn tắc đạo đức trực tiếp từ một sự kiện liên quan đến bản tính con người. Vấn đề chính xác hơn là phải hỏi từng tiền đề của lập luận có được biện minh hay không: con người có ergon riêng không? ergon ấy có phải hoạt động lý trí không? Vì sao cái thiện của con người được xác định bởi việc thực hiện ergon tốt? Và vì sao một đời sống được cấu thành bởi hoạt động ấy lại là một đời sống hoàn thiện? Những câu hỏi này khả dĩ cho phép ta đánh giá Aristotle từ bên trong cấu trúc triết học của ông, thay vì áp đặt lên ông khuôn khổ đạo đức học hình thành rất lâu về sau.
Vì vậy, có lẽ vai trò chính của function argument, thay vì nằm ở việc nó cung cấp một phép chứng minh vững chắc, nó xác lập nên nguyên tắc tổ chức cho đạo đức học của Aristotle. Một khi chấp nhận rằng đời sống con người có một hoạt động đặc thù và rằng hoạt động ấy chỉ đạt được điều thiện khi được thực hiện theo arete, vấn đề đạo đức học được quy về việc con người nên trở thành hình mẫu nào thông qua cách mình sống và hành động.
Đó cũng là nơi Aristotle bắt đầu khác biệt rõ rệt với những cách hiểu thuần túy về đạo đức như sự tuân thủ mệnh lệnh. Điều tốt đẹp không đến từ những quy tắc bên ngoài áp đặt vào từng cá thể, mà phải được hiện thực hóa trong chính hoạt động của họ. Nhưng để biết hoạt động ấy phải được thực hiện thế nào, ta vẫn chưa thể dừng ở khái niệm arete theo nghĩa chung. Cần phải biết những arete nào tồn tại, chúng được hình thành ra sao, và bằng cách nào một người có thể trở thành người có đức hạnh.
V. Kết luận
Trong Nicomachean Ethics I.7, Aristotle đưa ra một bước chuyển quan trọng từ việc xác định điều thiện tối hậu sang việc xác định cấu trúc của một đời sống tốt. Eudaimonia được giải thích thông qua hoạt động của con người. Để hiểu hoạt động ấy, Aristotle sử dụng ergon: con người có một hoạt động đặc thù gắn với lý trí; và để hiểu thế nào là thực hiện hoạt động ấy tốt, ông sử dụng arete.
Quan hệ giữa hai khái niệm vì thế có thể được diễn đạt ngắn gọn: ergon xác định con người làm gì với tư cách là con người; arete xác định trạng thái xuất sắc nội tại của con người tương ứng với ergon của họ. Qua hai khái niệm này, eudaimonia trở thành một hình thức hoạt động có chất lượng, chứ không phải một trạng thái mà con người chỉ cần đạt được rồi giữ lấy.
Tuy nhiên, lập luận về ergon không phải một phép chứng minh đơn giản và hoàn toàn không có vấn đề. Nó dựa trên một số tiền đề cần được kiểm tra, đặc biệt là việc con người có một chức năng đặc thù và việc điều thiện của một sự vật có thể được xác định từ cách nó thực hiện chức năng ấy. Các nghiên cứu hiện đại vì thế không chỉ sử dụng function argument để giải thích Aristotle, mà còn tranh luận về phạm vi và sức mạnh thực sự của nó.
Dẫu vậy, ngay cả khi chưa giải quyết hết những vấn đề ấy, ergon và arete đã cho chúng ta một cách nhìn khác về câu hỏi “sống hạnh phúc là gì?”. Nếu bài trước xác định eudaimonia là cứu cánh của đời sống con người, thì bài này cho thấy cứu cánh ấy không thể tách khỏi cách con người thực sự hoạt động. Và từ đây, đạo đức học Aristotle sẽ phải đi vào một câu hỏi cụ thể hơn: một con người cần hình thành, rèn luyện như thế nào nào để có thể hành động tốt một cách ổn định? Hay làm sao để đạt được trạng thái Xuất sắc?
Đó là vấn đề của hexis, của sự tập thành qua thói quen, và cuối cùng là của những đức hạnh cụ thể mà Aristotle sẽ khảo sát trong những phần tiếp theo của Nicomachean Ethics.
Sắp diễn ra
Bình luận
Chưa có bình luận, lời mở đầu vẫn để trống.




